Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Cẩn thận khi trẻ mắc bệnh sởi, quai bị, rubella

Sởi, quai bị và Rubella là ba loại bệnh gây ra bởi siêu vi trùng và rất dễ lây lan. Trẻ có thể bị mắc bệnh khi tiếp xúc với dịch tiết bắn ra từ người bệnh lúc người bệnh ho, hắt hơi, nhảy mũi. Với ba loại bệnh này, hầu hết trẻ khi mắc bệnh đều hồi phục hoàn toàn sau một thời gian ngắn. Tuy vậy, ở những trẻ có sức đề kháng kém, trẻ bị suy dinh dưỡng, trẻ bị suy giảm miễn dịch bẩm sinh hoặc mắc phải, bệnh xảy ra có thể diễn tiến nặng gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm.

Trẻ cần tiêm vaccin để phòng ngừa sởi, quai bị, rubella. Ảnh minh họa

Dễ lây lan và biến chứng nguy hiểm

Thực tế, nhiều người còn thiếu hiểu biết và rất chủ quan với căn bệnh này nên dẫn tới những trường hợp bệnh nặng, thậm chí tử vong đáng tiếc. Điển hình gần nhất là trường hợp một bé trai hơn 2 tuổi trong tình trạng toàn thân nổi ban đỏ, sốt cao và bé rất mệt mỏi. Mẹ bé cho biết bé bị bệnh sởi, vì gia đình sợ bé ra gió sẽ nặng thêm nên lúc nào cũng ủ kín bé. Sau khi được tư vấn gia đình mới hiểu do chăm sóc sai nên bé mới bị nặng thêm.

Hiện nay sởi, quai bị và rubella là những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với trẻ em vì khả năng lây nhiễm khá cao trong cộng đồng và có khả năng tạo thành dịch lớn. Khi nhiễm bệnh thì sẽ có nhiều tác động bất lợi trên sức khỏe trẻ. Nguy hiểm nhất là những biến chứng các bệnh này để lại như viêm não, viêm phổi, viêm tinh hoàn ở trẻ nam, viêm buồng trứng ở bé gái, viêm khớp hoặc hội chứng rubella bẩm sinh làm trẻ sinh ra bị rất nhiều dị tật trên cơ thể như điếc, mù, bệnh tim bẩm sinh và kém phát triển. Ngoài ra, sởi được xem là nguyên nhân phổ biến gây tử vong cho trẻ em, quai bị có thể gây vô sinh ở nam giới.

Nhận biết bệnh

Hầu hết khi trẻ mắc bệnh sởi, quai bị và rubella có triệu chứng giống nhau như sốt, ho, đau nhức. Bệnh sởi sẽ xuất hiện ban dạng sẩn đầu tiên là ở sau tai sau đó lan đến mặt rồi lan dần xuống bụng và toàn thân. Sau khi hết sẽ để lại vết thâm trên da. Nổi ban dày và màu nhạt hơn ban sởi là bệnh rubella, bên cạnh đó kèm theo tình trạng sưng hạch, đau khớp. Quai bị thường bị sưng tuyến mang tai, gây đau nhức khi nhai và sưng tinh hoàn.

Riêng đối với trẻ có hội chứng rubella bẩm sinh thường có những dấu hiệu như đục thủy tinh thể và giảm thính giác nhưng chỉ có thể nhận thấy từ 2 - 4 năm sau.

Tiêm ngừa phòng bệnh

Khi trẻ nhiễm bệnh có dấu hiệu sốt trên 38,50C nên cho trẻ uống thuốc hạ sốt. Nếu trẻ ho có thể cho uống thuốc giảm ho. Về chế độ ăn uống, phải đầy đủ chất dinh dưỡng, ăn thức ăn lỏng, mềm và có thể chia nhỏ khẩu phần ăn làm nhiều lần trong ngày giúp trẻ dễ tiêu hóa. Nên cho trẻ uống thêm nhiều nước đặc biệt là các loại nước ép trái cây giàu vitamin C. Hạn chế cho trẻ vận động thể lực mạnh như chạy nhảy, đùa giỡn. Ngoài ra, phải giữ vệ sinh tốt cho trẻ để tránh nhiễm thêm vi trùng, tuyệt đối không nên ủ kín hoặc kiêng tắm khi trẻ bị sởi bởi sẽ làm cho tình trạng bệnh thêm trầm trọng. Bên cạnh đó cần chú trọng việc vệ sinh nhà cửa và môi trường chung quanh, giữ gìn phòng ốc thông thoáng, sạch sẽ và cách ly trẻ lành với người bệnh.

Cách phòng ngừa bệnh sởi, quai bị và rubella cho trẻ hiệu quả nhất là tiêm ngừa vắc-xin phòng bệnh. Hiện nay đã có vắc-xin 3 trong 1 (một mũi tiêm chứa cả 3 thành phần sởi, quai bị và rubella) giúp phòng ngừa các bệnh này. Trẻ từ 12 - 15 tháng tuổi có thể tiêm ngừa để phòng tránh hiệu quả các bệnh này.

ThS. BS. ĐINH THẠC

Cải thiện và phòng tránh tật khúc xạ ở trẻ em

Theo điều tra của Bệnh viện Mắt trung ương cho thấy, tỷ lệ tật khúc xạ như cận thị, loạn thị, viễn thị... ngày càng gia tăng, từ 2,5% trong năm 2002 lên 25%-30% năm 2007, đặc biệt ở trẻ em lứa tuổi đến trường và tập trung ở các đô thị. Tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh có tới hơn 40% học sinh phổ thông mắc các tật khúc xạ...

Tật khúc xạ ảnh hưởng đến 2,5 tỷ người (khoảng 20% dân số) trên toàn thế giới. Ở nước ta tỷ lệ mắc tật khúc xạ ngày càng tăng ở trẻ với khoảng 3 triệu trẻ em trong cả nước cần đeo kính. Đặc biệt, học sinh thành thị mắc tật khúc xạ có tỷ lệ rất cao, chiếm tới 40% - 50% số học sinh, trong khi tỷ lệ học sinh ở nông thôn bị tật khúc xạ chỉ chiếm khoảng 15%. Không có gì ngạc nhiên khi con số thống kê cho biết 79% các em bị tật khúc xạ là cận thị. Nhẩm tính ra tiền kính, tiền thuốc, tiền khám bệnh mỗi cháu cũng gần đến tiền triệu.

 

Chưa kể những bất tiện cho trẻ đeo kính, nguy cơ tiềm tàng về tai nạn do mắt kính, gọng kính và các biến chứng khác. Tính phổ biến của tật khúc xạ, gánh nặng chi phí, nguyên nhân phức tạp, hiệu quả điều trị không cao... đã làm hệ thống y tế và cả xã hội bối rối mà chưa biết tháo gỡ từ đâu. Để kiểm soát được tật khúc xạ, điều quan trọng là chúng ta phải nhìn nhận đúng đắn về trục bệnh lý: tật khúc xạ- lác- nhược thị, mối quan hệ nhân quả và những việc cần làm ngay vì lợi ích của trẻ.

Phát hiện sớm bất thường chức năng nhìn của trẻ

Nhìn chung mắt có tật khúc xạ là mắt có thị lực kém và trẻ thường biểu hiện bằng nheo mắt, nghiêng đầu, vẹo cổ khi nhìn, đôi khi có thể có nhức đầu, nhức mắt... Trong lớp học, trẻ không nhìn rõ trên bảng, hay cúi đầu lại gần sách để nhìn cho rõ, hay chép nhầm bài, đọc nhầm chữ, ảnh hưởng đến chất lượng học tập. Những trường hợp này cần được phát hiện sớm và có phương hướng điều trị thích hợp.

Chức năng của mắt là giúp cho chúng ta nhìn rõ được những vật ở xung quanh. Mắt bình thường (hay còn gọi là mắt chính thị, mắt không có tật khúc xạ) là mắt có hình ảnh của vật hội tụ đúng trên võng mạc và chỉ khi đó thì vật mới được nhìn rõ. Khi mắt không có khả năng hội tụ một cách chính xác những tia sáng đi từ ngoài vào mắt đúng trên võng mạc thì gọi là mắt có tật khúc xạ. Đây là bệnh rất hay gặp ở trẻ em, cần nhận biết và có biện pháp khắc phục sớm.

Cận thị là mắt có trục nhãn cầu dài hơn bình thường hoặc công suất khúc xạ quá lớn, khi đó hình ảnh của vật rơi vào phía trước của võng mạc. Người bị cận thị nhìn xa mờ nhưng nhìn gần vẫn rõ nhờ vào chức năng điều tiết của mắt trừ khi cận thị quá nặng. Cận thị có thể là bẩm sinh hay mắc phải. Điều chỉnh mắt cận thị là đeo kính phân kỳ để giúp cho ảnh của vật rơi đúng vào võng mạc và khi đó vật sẽ được nhìn rõ.

Viễn thị ngược lại với mắt cận thị là mắt có trục nhãn cầu ngắn hơn bình thường và khi đó hình ảnh của vật rơi vào phía sau của võng mạc. Người bị viễn thị nhìn xa rõ hơn nhìn gần. Điều chỉnh mắt viễn thị bằng đeo kính hội tụ để kéo ảnh của vật về đúng trên võng mạc. Cần lưu ý là mắt viễn thị thường gây nhược thị và có thể là yếu tố gây ra lác điều tiết nên cần phải được phát hiện và điều trị sớm.

Loạn thị là mắt có các kinh tuyến khúc xạ không đều nhau. Vật nhìn không in hình rõ nét trên võng mạc và người bệnh nhìn mờ cả xa và gần. Trẻ bị loạn thị thường nhìn mờ khi nhìn lên bảng hay đọc nhầm chẳng hạn như chữ H đọc thành chữ N, chữ B đọc thành chữ H, chữ I đọc thành chữ T... Loạn thị có thể là đơn thuần hoặc phối hợp với cận thị hay viễn thị. Điều chỉnh mắt loạn thị bằng cách đeo kính trụ.

Lệch khúc xạ là hiện tượng có sự khác nhau về khúc xạ giữa hai mắt có thể là một mắt cận còn mắt kia viễn hoặc cả hai mắt cùng cận hay cùng viễn nhưng khác nhau về mức độ. Đôi khi là một mắt chính thị còn mắt kia là cận thị đơn thuần, viễn thị đơn thuần hay cận loạn hoặc là viễn loạn.

Những trường hợp này cần được phát hiện sớm và đi khám bác sĩ chuyên khoa mắt để có phương hướng điều trị thích hợp. Ngoài ra trẻ phải tuân thủ đầy đủ chế độ vệ sinh học đường như tư thế ngồi học, bàn ghế, bảng đen, ánh sáng phòng học, chế độ giải lao vui chơi và dinh dưỡng hợp lí để không bị mắc phải cận thị học đường hoặc nếu có bị những tật khúc xạ bẩm sinh thì cũng không bị nặng hơn.

 

Đây là mẫu, bạn có thể sửa lại ảnh, màu nền, kích cỡ của bảng tùy theo nhu cầu.

Nhìn nhận đúng về lác mắt

Mắt có tật khúc xạ là mắt có thị lực kém và trẻ thường biểu hiện bằng nheo mắt, nghiêng đầu, vẹo cổ khi nhìn, đôi khi có thể có nhức đầu, nhức mắt...

Lác mắt là hiện tượng lệch trục nhãn cầu biểu hiện bằng độ lác khi quan sát thấy. Đây không chỉ là vấn đề thẩm mỹ mà còn gây ra nhược thị và rối loạn thị giác hai mắt đi kèm. Lác có thể là lác trong (khi nhãn cầu lệch vào trong), lác ngoài (khi nhãn cầu lệch ra ngoài) hay lác đứng (khi nhãn cầu lệch lên trên hoặc xuống dưới). Khi mắt bị lác, hai mắt sẽ nhìn theo hai hướng khác nhau và sẽ bị nhìn hai hình. Lúc đó não sẽ xoá bỏ hình ảnh của mắt lác ức chế không cho mắt này nhìn và gây ra nhược thị. Vì vậy, người bệnh sẽ mất khả năng nhìn bằng hai mắt đồng thời sẽ không có được thị giác hai mắt. Bất cứ trẻ từ 1 tháng tuổi trở lên xuất hiện lác cần phải coi là nghiêm trọng và phải được đưa đi khám ngay.

Điều trị lác có 3 bước liên quan chặt chẽ với nhau là: điều trị nhược thị, điều trị thẳng trục nhãn cầu để hết lác và điều trị phục hồi thị giác hai mắt. Thời gian điều trị lác càng sớm càng tốt, điều trị sớm không những rút ngắn thời gian điều trị mà còn tăng cường hiệu quả điều trị và nâng cao cơ hội phục hồi thị giác hai mắt. Các phương pháp điều trị khác nhau như: đeo kính, bịt mắt tập chỉnh quang, điều trị bằng thuốc hay phẫu thuật... Ngoài ra, trẻ sau khi điều trị khỏi lác vẫn cần phải theo dõi lâu dài và duy trì kết quả điều trị đã đạt được.

Nhược thị và khiếm thị

Nhược thị là hiện tượng mắt kém ở một hoặc hai bên do các nguyên nhân khác nhau như: lác mắt, do tật khúc xạ hay một số bệnh lí tại mắt. Tuy nhiên nhược thị có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu như được phát hiện sớm và điều trị đúng. Các phương pháp điều trị nhược thị có thể là đeo kính, bịt mắt lành, tập chỉnh quang hay phẫu thuật...

Khác với nhược thị, khiếm thị là một tình trạng khiếm khuyết về chức năng của cơ quan thị giác gây ra bởi các bệnh mắt bẩm sinh, di truyền hay mắc phải, do chấn thương mắt trong cuộc sống... mà không thể điều trị khỏi được bằng các phương pháp điều chỉnh khúc xạ, bằng thuốc hay bằng phẫu thuật. Phương pháp điều trị đối với trẻ bị khiếm thị là sử dụng các phương tiện trợ thị thích hợp để giúp cho trẻ có thể tận dụng một cách hữu ích nhất phần thị lực còn lại để có thể hoà nhập với cuộc sống cộng đồng.  

Trong lúc chờ đợi những phương pháp điều trị hiệu quả hơn, triệt để hơn thì việc quan tâm sát sao đến những bất thường thị giác của trẻ, có những hiểu biết nhất định để phối hợp tốt với các bác sĩ mắt khắc phục tật khúc xạ bằng kính thông thường thiết nghĩ vẫn là phương châm tốt cho tất cả mọi người.

 BS. Đỗ Quang Ngọc - BS. Hoàng Cương

Tổn thương da và niêm mạc ở trẻ nhiễm HIV

Tổn thương da là một trong các bệnh lý nhiễm trùng cơ hội hay gặp ở trẻ nhiễm HIV/AIDS. Biểu hiện của tổn thương da có liên quan chặt chẽ với tình trạng suy giảm miễn dịch. Việc chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào biểu hiện lâm sàng và một số xét nghiệm được chỉ định khi cần thiết.

Nhiễm trùng tại chỗ

Biểu hiện của nhiễm trùng tại chỗ là mụn, nhọt ngoài da, chốc, viêm loét, đến viêm cơ, xương. Trẻ có thể có biểu hiện sốt. Các nhiễm trùng tại chỗ này có thể do vi khuẩn (thường do tụ cầu, liên cầu tan huyết), do nấm (Candida, Penicillium marneffei...), do virut (HSV, VZV, HPV) và các loại ký sinh trùng khác như ghẻ, dị ứng, côn trùng.

Việc chẩn đoán và điều trị các nhiễm trùng tại chỗ cũng giống như đối với trẻ không nhiễm HIV. Nếu là vi khuẩn có thể dùng thuốc kháng sinh như amoxiciclin hoặc oxacilin. Nếu do virut (VZV, HPV) dùng thuốc chống virut acyclovir. Dùng đường tiêm hay uống tùy theo mức độ nặng, nhẹ của bệnh.

Chăm sóc trẻ nhiễm HIV tại Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội số 2 (xã Yên Bài, Ba Vì, Hà Nội). Ảnh:Hải Ninh
Nhiễm nấm Candida

Nhiễm nấm Candida thường có do suy giảm miễn dịch nặng. Bệnh dai dẳng, hay tái phát.

Candida miệng: tạo thành mảng, đám giả mạc trắng, dễ bong ở lưỡi, lợi, trong má, vòm họng. Có thể dùng clotrimazol viên ngậm, miconazol, nystatin đánh lưỡi.

Candida họng, thực quản: có triệu chứng khó nuốt, nuốt đau. Dùng fluconazol trong 2-3 tuần.

Candida da: dát đỏ lan tỏa, đóng vẩy, xung quanh có sẩn vệ tinh, có thể có mụn mủ hay viêm nang lông mủ, hay ở nách, bẹn, quanh móng. Bệnh nấm Candida xâm nhập dùng amphotericin B trong 2 - 3 tuần.

Việc chẩn đoán dựa vào lâm sàng. Nếu điều trị không thuyên giảm soi tươi tìm nấm hoặc soi thực quản. Nuôi cấy để phân loại nếu biểu hiện lâm sàng không điển hình.

Dạng nốt sẩn nổi trên da

Có các triệu chứng toàn thân như sốt cao kéo dài, có biểu hiện thiếu máu; gan, lách, hạch to; sụt cân, xuất hiện khi tế bào CD4 ở ngưỡng suy giảm miễn dịch nặng. Việc chẩn đoán dựa vào lâm sàng. Nguyên nhân do nấm:

Nấm Penicilium marneffei: hay gặp (chiếm 70% bệnh nấm). Có triệu chứng toàn thân. Ban thường nổi trên mặt da có hoại tử đen ở vùng trung tâm, chủ yếu ở đầu, mặt, phần trên thân mình. Tế bào CD4 thường <15%.

 Tổn thương da do zona.

Nấm Cryptococcus neoformans:

ít gặp hơn (chiếm 10% bệnh nấm), thường xuất hiện ở trẻ trên 6 tuổi. Có triệu chứng toàn thân. Ban toàn thân, dạng nốt sẩn, có thể có loét và hoại tử ở trung tâm. Thường có tổn thương viêm màng não hoặc viêm phổi. Tế bào CD4 thường dưới 100/mm3.

Nấm Histoplasma: ít gặp (chiếm 5 - 10% bệnh nấm). Có triệu chứng toàn thân. Hay kèm theo tổn thương phổi, màng não, tiêu chảy. Đôi khi tổn thương da là dát sẩn và ban xuất huyết.

Có thể soi tươi hoặc cấy tổ chức tổn thương tìm nấm. Ngoài ra dạng nốt sẩn nổi trên da còn gặp ở dạng:

U mềm lây: hay gặp, không có triệu chứng toàn thân với các biểu hiện sẩn trong, hình bán cầu lõm giữa, chứa chất bã đậu, không hoại tử, thường ở mặt hoặc sinh dục, ngực, bụng, cánh tay, mông, đùi.

U nhú ở người (bệnh mào gà sinh dục): có u nhú giống súp lơ, màu hồng tươi, mềm, có chân, không đau, dễ chảy máu. Hoặc dạng hạt cơm phẳng rộng hoặc hạt cơm có sẩn sừng dày lên, khu trú ở hậu môn, sinh dục. Không có triệu chứng toàn thân...

Các thuốc điều trị đối với nấm dùng amphotericin B, itraconazol, fluconazol. Đối với u mềm lây dùng phương pháp đốt lạnh hoặc nạo tổn thương. Nếu không có hiệu quả dùng thuốc bôi imiquimod hoặc cidofovir. Liệu pháp ARV có tác dụng phòng và điều trị u mềm lây. Đối với u nhú: bôi podophylin hoặc acid trichloroacetic. Nếu tổn thương ở họng miệng chỉ định đốt lạnh, đốt điện, laser.

Lưu ý: Khi dùng podophyllin chỉ chấm vào tổn thương, không để giây ra da và niêm mạc lành. Sau khi bôi thuốc từ 1- 4 giờ, bệnh nhân phải rửa chỗ bôi thuốc. Sau 4 - 6 tuần không kết quả thì dùng biện pháp đốt.

Ban dạng phỏng nước

Nguyên nhân là do virut trong các bệnh cảnh:

Zona (giời leo) do Herpes zoster (HZV): với biểu hiện phỏng nước, đau rát, ở một bên cơ thể, dọc theo tiết đoạn thần kinh da, thường là vùng liên sườn, ngực, đầu, mặt.

Thủy đậu do Varicella zoster- (VZV): phỏng nước nhiều giai đoạn, khắp cơ thể, khi vỡ để lại vết loét.

Herpes simplex (HSV): nhiều mụn nước, vỡ tạo thành vết loét chợt rồi đóng vẩy, khu trú quanh miệng, hậu môn, sinh dục. Nếu lan đến thực quản gây khó nuốt, nuốt đau, có thể lan đến khí - phế quản. Bệnh hay tái phát và có thể có biến chứng viêm não.

Điều trị: Bôi xanh methylen, milian tại chỗ chống bội nhiễm. Thuốc chống virut tại chỗ ít có hiệu quả, gây kích thích tổn thương. Thuốc toàn thân có tác dụng tốt nhất đối với HZV trong vòng 72 giờ đầu có nốt phỏng. Thể nhẹ, chức năng miễn dịch tốt uống acyclovir trong 7 ngày. Thể nặng, zona lan tỏa tiêm tĩnh mạch acyclovir 7 - 14 ngày. Phòng tái phát 1 lần trở lên trong một tháng dùng acyclovir kéo dài. 

BS. Nguyễn Bích Ngọc

Hạ sốt cho trẻ em

Phát hiện sớm bệnh cong vẹo cột sống

(suckhoedoisong.vn) - Cong vẹo cột sống mức nhẹ thường ít gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, nếu không được điều trị sớm, cong vẹo cột sống có thể tiến triển nặng và gây ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống sau này. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra triệu chứng đau lưng, hạn chế vận động của hệ thống cơ xương.

Cong vẹo cột sống là gì?

Trong giai đoạn phôi thai, cột sống người có hình vòm cong. Sau khi sinh ra, khi trẻ đang còn nằm thì cột sống chuyển từ vòm cong sang thẳng, đến khi trẻ biết ngẩng cao đầu và tập lẫy thì đoạn cổ bắt đầu cong ra phía trước để nâng đầu lên và tạo thành đoạn cong ở cổ. Đến tháng thứ 6, khi trẻ tập ngồi thì cột sống uốn cong ra phía trước ở vùng thắt lưng và cong ra sau ở vùng cùng, cụt để giữ thân mình thẳng đứng. Đến khi trưởng thành, cột sống có 2 đoạn cong uốn về phía  trước là cổ và thắt lưng, 2 đoạn cong uốn về phía sau là ngực và cùng - cụt.

Cột sống có vai trò hết sức quan trọng trong mọi hoạt động sống của con người. Cột sống là trụ cột của cơ thể, là chỗ dựa vững chắc cho các hệ thống cơ quan phát triển, bảo vệ tuỷ sống, giảm sóc cho bộ não. Nhờ có cột sống mà cơ thể có thể vận động linh hoạt, quay sang trái, sang phải, cúi hoặc ưỡn, nhún nhảy một cách dễ dàng, tạo cho cơ thể có nhiều tư thế khác nhau.

Biến dạng cột sống là sự thay đổi về hình dáng hoặc cấu trúc của cột sống so với bình thường. Biến dạng cột sống bao gồm cong cột sống (gù hoặc ưỡn) và vẹo cột sống. Do vậy khi nói về biến dạng cột sống lứa tuổi học đường, người ta thường quen dùng thuật ngữ “Cong vẹo cột sống”.

Cong cột sống là hiện tượng cột sống bị uốn cong quá mức sinh lý bình thường ở đoạn cổ, đoạn ngực hoặc thắt lưng. Khi đoạn cổ bị uốn cong quá mức, đầu sẽ ngả về trước, hai vai chùng xuống và giảm độ cong thắt lưng (tư thế vai so). Nếu đoạn ngực bị uốn cong quá mức về phía sau, lưng tròn, vai thấp, đầu hơi ngả, bụng nhô về phía trước (gọi là tư thế gù). Nếu đoạn thắt lưng bị uốn cong quá mức về phía trước, bụng xệ, phần trên của thân hơi ngả về phía sau (gọi là tư thế ưỡn).

Vẹo cột sống là hiện tượng cột sống bị uốn cong sang bên phải hoặc bên trái. Khi bị vẹo cột sống, nếu đỉnh đường cong hướng về bên phải thì cột sống có hình chữ C ngược, nếu đỉnh đường cong hướng về bên trái thì cột sống có hình chữ C thuận. Nếu cột sống có hai cung uốn cong đối xứng nhau thì nó sẽ có hình chữ S thuận hoặc chữ S ngược (còn gọi là vẹo cột sống bù trừ).

Theo thống kê, vẹo cột sống chiếm khoảng 1- 4% dân số, thường gặp ở nữ nhiều hơn nam và ảnh hưởng nhiều đến trẻ em từ 10-18 tuổi. Cong cột sống thường gặp ở trẻ em 12-15 tuổi.

 Hướng dẫn trẻ ngồi học đúng tư thế.
Nhận biết như thế nào?

Trong trường hợp bị vẹo cột sống, có thể nhìn thấy những bất thường như: các gai đốt sống không thẳng hàng; hai vai dốc không đều, bên cao bên thấp; xương bả vai nhô ra, khoảng cách từ 2 mỏm xương bả vai đến gai đốt sống không bằng nhau; hai tam giác eo tạo ra giữa cánh tay và thân không đều nhau, bên rộng bên hẹp; mào chậu bên thấp bên cao; hai thăn lưng mất cân đối hoặc có ụ lồi do cột sống bị xoáy vặn, xương sườn lồi lên.

Nếu bị gù thì quan sát thấy lưng tròn, vai thấp, bụng nhô, đầu ngả ra phía trước. Nếu bị ưỡn, phần trên của thân hơi ngả về phía sau, bụng xệ xuống.

Có nhiều nguyên nhân gây ra cong vẹo cột sống. Một số trẻ em sinh ra đã bị cong hoặc vẹo cột sống bẩm sinh. Một số trẻ em bị cong vẹo cột sống do ngồi, đi đứng quá sớm hoặc bị mắc các bệnh về thần kinh, bệnh cơ, bị chấn thương, thể trạng kém vì ít hoạt động thể thao, suy dinh dưỡng (còi xương), cường độ lao động không thích hợp với lứa tuổi. Nhiều trường hợp không xác định được nguyên nhân dẫn đến cong vẹo cột sống.

Cong vẹo cột sống ở tuổi học sinh có thể phát sinh do ngồi sai tư thế vì bàn ghế không phù hợp với chiều cao của học sinh, chiếu sáng bàn học kém, mang cặp sách quá nặng về một bên vai.

Tác hại của cong vẹo cột sống

Cong vẹo cột sống mức nhẹ thường ít gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, nếu không được điều trị sớm, cong vẹo cột sống có thể tiến triển nặng và gây ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống sau này. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra triệu chứng đau lưng, hạn chế vận động của hệ thống cơ xương.

Trường hợp bệnh nặng có thể gây rối loạn tư thế, dị dạng thân hình, tác động xấu đến tâm lý của trẻ, hạn chế khả năng hòa nhập cộng đồng; ảnh hưởng đến chức năng của tim, phổi (giảm dung tích sống của phổi); gây biến dạng xương chậu, ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản của trẻ em nữ khi trưởng thành.

Chi phí điều trị cho các bệnh nhân bị cong vẹo cột sống rất tốn kém, đặc biệt là những bệnh nhân cần phải phẫu thuật chỉnh hình.

Và phòng ngừa?

Để phòng ngừa cong vẹo cột sống trước hết cần phải nâng cao sức khỏe chung của cơ thể bằng cách rèn luyện thể dục thể thao cho các bắp thịt, các tổ chức liên kết, dây chằng các khớp khỏe, làm tăng sự dẻo dai bền bỉ và phát triển cân đối.

Cần phòng chống suy dinh dưỡng, còi xương ở trẻ nhỏ. Chế độ ăn cần có đủ protein, chất khoáng và vitamin.

Bàn ghế ngồi học phải phù hợp với lứa tuổi và tư thế ngồi học phải đúng.

Nơi học tập ở trường phải đảm bảo chiếu sáng tự nhiên và chiếu sáng nhân tạo. Ở nhà, ngoài hệ thống chiếu sáng chung, gia đình cũng cần trang bị đèn ở góc học tập cho các em học sinh để đảm bảo ánh sáng tốt hơn. Cần thực hiện giờ nghỉ giải lao giữa các tiết học.

Học sinh không mang cặp quá nặng, trọng lượng cặp sách không nên vượt quá 15% trọng lượng cơ thể. Cặp phải có hai quai, khi sử dụng học sinh đeo đều hai vai, tránh đeo lệch về một phía.

Học sinh cần được khám cột sống định kỳ nhằm phát hiện sớm các trường hợp cong vẹo cột sống để có thể có cách xử trí và điều trị kịp thời.

ThS. Lỗ Văn Tùng

Như một món quà đầu đời tặng trẻ!

BV. Từ Dũ (TP.HCM) vừa tổng kết đánh dấu mốc 10 năm chương trình sàng lọc trước sinh và sơ sinh (SLTS &SS). Hàng ngàn cháu bé đã được chẩn đoán, sàng lọc dị tật để chào đời khỏe mạnh. Sức khỏe & đời sống đã có cuộc trao đổi với ThS. BS. Phùng Như Toàn, Trưởng khoa Xét Nghiệm  Di truyền Y học BV. Từ Dũ, về chương trình ý nghĩa này.

 
- Phóng viên:Thưa bác sĩ, những dị tật gì có thể tránh và khắc phục được nhờ sàng lọc trước sinh (SLTS) và sàng lọc sơ sinh (SLSS)? Điều này có ý nghĩa như thế nào đối với gia đình và xã hội?

ThS.BS. Phùng Như Toàn: Có thể nói mục đích cuối cùng của BS sản khoa trong vấn đề chăm sóc sức khỏe của thai phụ là muốn đánh giá trước khi bé chào đời những bệnh lý có thể chẩn đoán được. Đó là những bệnh lý ở cấp độ gen, nhiễm sắc thể có thể gây hậu quả nặng nề là dị tật bẩm sinh cho thai nhi, làm cho thai nhi có sức sống kém, có thể tử vong sau sinh hoặc sinh ra bị chậm phát triển thể chất, tâm thần vận động. Đó là trước sinh, còn SLSS, đối với những bệnh lý mà trong bào thai không thể chẩn đoán được như những rối loạn nội tiết, rối loạn về dị tật bẩm sinh, những bệnh lý về rối loạn chuyển hóa thì phải đợi sau sinh mới đánh giá được. Thế giới đã triển khai kỹ thuật này từ những năm 1960 tại nhiều nước và tầm soát hàng loạt bệnh cho em bé bằng kỹ thuật lấy giọt máu khô (áp dụng cho 6 - 15 bệnh). Những bệnh lý có thể phát hiện được qua sàng lọc ở ta hiện có bệnh Down, hội chứng Edwards, dị tật ống thần kinh, suy giáp bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản tuyến thượng thận và Thalassemia thể nặng…

- Phóng viên: Hơn mười năm triển khai những kỹ thuật này, đã có bao nhiêu ca được thực hiện tại BV. Từ Dũ?

ThS.BS. Phùng Như Toàn: BV. Từ Dũ đã quyết định trang bị máy móc, thiết bị và cử cán bộ đi học tập kinh nghiệm ở nước ngoài và sau đó thành lập Trung tâm tiền sản năm 1999 để thực hiện các kỹ thuật chẩn  đoán trước sinh. Còn với các bệnh lý sơ sinh, đến năm 2002 bệnh viện cũng đã triển khai sàng lọc. Chỉ trong vòng 5 năm (từ 2002 - 2006), đã có trên 150.000 trẻ sinh tại BV. Từ Dũ đã được tiến hành SLSS. 5 năm sau đó, thêm bệnh lý tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh được đưa vào danh mục bệnh SLSS. Tổng cộng lại, có khoảng 300.000 trẻ sinh tại bệnh viện đã được sàng lọc.

-Phóng viên:Quy trình SLTS &SS hiện nay được tiến hành như thế nào, thưa BS?

ThS.BS. Phùng Như Toàn: Quy trình kỹ thuật thì rất đơn giản, chỉ cần lấy 2 giọt máu gót chân của trẻ sau 48 giờ sinh (nếu sơ sinh non tháng, nhẹ cân thì lấy mẫu khi trẻ đủ 7 ngày tuổi) là có thể tiến hành các xét nghiệm phân tích được 2 bệnh lý là thiếu men G6PD (qua đó, cha mẹ trẻ sẽ được tư vấn tránh các loại thực phẩm hay thuốc tây ảnh hưởng dễ gây vỡ hồng cầu, vàng da…) và suy giáp bẩm sinh. Với bệnh lý này, nếu phát hiện, trẻ sẽ được tham vấn và điều trị hiệu quả, triệt để tại BV. Nhi Đồng 1, TP.HCM, để có thể phát triển bình thường về thể chất và trí tuệ.

- Phóng viên:Hiện nay nhiều bà mẹ mang thai vẫn chưa biết hoặc chủ quan với việc khám thai định kỳ cũng như SLTS & SS. Chúng ta cần làm gì để có thể thay đổi điều nàỵ?

ThS.BS. Phùng Như Toàn: Cứ hình dung thế này, nếu chúng ta bỏ ra một đồng để làm SLTS&SS thì chúng ta sẽ lời 5 đồng khi không phải điều trị bệnh cho trẻ. Lợi ích lớn hơn, đó là những đứa trẻ sinh ra và lớn lên thông minh, khỏe mạnh, không dị tật và là nền tảng phát triển quốc gia. Do vậy, ngoài cố gắng về chuyên môn và tuyên truyền của ngành y tế, Tổng cục dân số, Chi cục dân số và các CTV dân số các tỉnh trong trong các dự án về SLSS đang triển khai thì vai trò của truyền thông của báo, đài cũng có vai trò quan trọng để tuyên truyền và thay đổi nhận thức cũng như hành vi của các thai phụ sắp và đang làm mẹ. Việc SLTS & SS sẽ giúp loại bỏ được 95% những dị tật bất thường và cho ra đời những đứa trẻ khỏe mạnh. Đây như một món quà đầy ý nghĩa mà các bậc cha mẹ tặng con cái lúc đầu đời vậy!

 - Phóng viên: Với ý nghĩa lớn lao của SLTS & SS thì  “độ phủ” càng rộng càng tốt. Vậy kỹ thuật này có thể chuyển giao rộng rãi cho tuyến dưới áp dụng được không,  thưa BS?

ThS.BS. Phùng Như Toàn: Hiện, sàng lọc sơ sinh từ một kỹ thuật được triển khai đầu tiên ở BV. Từ Dũ đã trở thành một chương trình mục tiêu quốc gia. Năm 2006, Bộ Y tế đã chỉ đạo 2 bệnh viện đầu ngành về phụ sản ở phía Bắc và phía Nam là BV. Phụ sản TW và BV. Từ Dũ ngồi lại với Tổng cục Dân số để viết một đề án thử nghiệm đưa vào thí điểm thực hiện kỹ thuật SLSS tại 12 địa phương tại phía Bắc và 12 tỉnh thành tại phía Nam do 2 bệnh viện trên chịu trách nhiệm phụ trách. Từ đó, việc tuyên truyền, vận động cho cộng đồng được đẩy mạnh. Song song đó, việc mở lớp tập huấn cho đội ngũ cán bộ y tế và kỹ thuật viên tại các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện về kỹ thuật lấy máu gót chân để gửi về BV. Từ Dũ làm xét nghiệm. Đề án đang triển khai tại phía Nam của BV. Từ Dũ hiện đã mở rộng ra 20 tỉnh như Đồng Nai, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bà Rịa - Vũng Tàu… và mỗi năm sàng lọc cho trên 80.000 trẻ (tập trung vào 2 bệnh thiếu men G6PD và suy giáp) và dự kiến con số này sẽ còn tăng lên trong thời gian tới. Hiện các bệnh viện tư như FV, Vũ Anh, Phụ sản quốc tế Sài Gòn cũng đang triển khai các kỹ thuật này. Với tuyến dưới, nếu được đầu tư máy móc, trang thiết bị và đào tạo con người thì hoàn toàn có thể thực hiện được kỹ thuật này. Khi đó, BV. Từ Dũ với vai trò là labo trung tâm sẽ hỗ trợ để các địa phương xây dựng labo chuẩn và tập huấn, chuyển giao kỹ thuật để cán bộ tuyến dưới đủ khả năng làm SLSL để không phải gửi mẫu về BV Từ Dũ như hiện nay nữa.

- Phóng viên: Xin cảm ơn BS về cuộc trao đổi này!

TU N NGUYỄN(thực hiện)

Phòng ngừa bệnh quai bị lứa tuổi học đường

(suckhoedoisong.vn) - Bệnh quai bị (còn được gọi là bệnh viêm tuyến nước bọt mang tai dịch tễ hay viêm tuyến nước bọt mang tai do virus quai bị) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính hay gặp ở lứa tuổi học đường, lây trực tiếp bằng đường hô hấp, hay gây thành dịch trong trẻ em, thanh thiếu niên do virus quai bị gây nên.

Biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất là viêm tuyến nước bọt mang tai không hoá mủ. Ngoài ra các tuyến nước bọt khác, tinh hoàn, tụy và hệ thần kinh trung ương cũng có thể bị tổn thương.

Virus quai bị có tên khoa học là Mumpsvirus thuộc họ Paramyxovirus. Có hướng tính gây bệnh với các tuyến ngoại tiết và thần kinh. Virus quai bị có sức đề kháng kém, bị bất hoạt nhanh khi ra ánh nắng mặt trời và trong điều kiện khô nóng, nhưng có thể tồn tại lâu ở nhiệt độ thấp. Nguồn bệnh là những người đang mắc quai bị cấp tính. Bệnh lây trực tiếp bằng đường hô hấp qua tiếp xúc giữa người bệnh và người lành. Thời gian lây bệnh từ 7 ngày trước đến 7 ngày sau khi có triệu chứng đầu tiên của bệnh. Bệnh gặp khắp nơi trên thế giới và có thể xảy ra quanh năm nhưng thường  thành dịch vào mùa Đông - Xuân. Bệnh thường xảy ra ở thanh, thiếu niên sinh hoạt tập thể: Mẫu giáo, trường học, đơn vị tân binh.

Tất cả những người chưa mắc quai bị đều có thể mắc bệnh, thường ở tuổi thanh thiếu niên. Trẻ dưới 2 tuổi và người già rất hiếm bị bệnh. Sau khi mắc bệnh, bệnh nhân có miễn dịch vững bền tồn tại rất nhiều năm, có thể tái phát, nhưng rất hiếm. Miễn dịch mẹ truyền cho con tồn tại khoảng 1 năm.

Các thể lâm sàng

Các thể bệnh thường được phân loại theo vị trí tổn thương, gồm các thể sau: thể viêm tuyến nước bọt (tuyến mang tai, dưới hàm, dưới lưỡi);  thể viêm tinh hoàn; thể viêm tụy; thể thần kinh (viêm màng não, viêm não); thể kết hợp (viêm tuyến nước bọt mang tai kết hợp với viêm tinh hoàn, hoặc viêm tuyến nước bọt mang tai với viêm màng não) v. v...

Viêm tuyến nước bọt mang tai: là thể điển hình hay gặp nhất, chiếm 70% các thể có khu trú rõ. Thời gian nung bệnh trung bình từ 18 - 21 ngày.

 Khởi phát bệnh người bệnh sẽ bị sốt 38 - 39oC, đau đầu, đau mỏi toàn thân, ăn ngủ kém.

 Giai đoạn toàn phát: sau sốt 24 - 48 giờ xuất hiện viêm tuyến mang tai. Lúc đầu sưng một bên, sau 1 - 2 ngày sưng tiếp bên kia (thường sưng cả hai bên, ít gặp sưng chỉ một bên). Hai bên sưng thường không đối xứng (bên sưng to, bên sưng nhỏ), tuyến mang tai sưng to đôi khi làm mất rãnh trước và sau tai, có khi biến dạng mặt, mặt phình ra, cổ bạnh, cằm xệ. Da vùng má  bị sưng căng, bóng, không đỏ, ấn không lõm, sờ nóng, đau, nước bọt ít, quánh.

Giai đoạn lui bệnh: Bệnh tự khỏi trong vòng 10 ngày. Thường hết sốt sau 3 - 4 ngày, tuyến hết sưng trong vòng 8 - 10 ngày, hạch sưng kéo dài hơn tuyến một chút. Tuyến nước bọt không bao giờ hoá mủ (trừ khi bội nhiễm vi khuẩn) và cũng không bao giờ bị teo.

Viêm tinh hoàn: là thể thường gặp thứ hai sau viêm tuyến nước bọt mang tai. Hay gặp ở nam giới đang tuổi dậy thì hoặc đã trưởng thành (khoảng 10% - 30% số mắc bệnh quai bị). Viêm tinh hoàn thường bị một bên, ít gặp cả hai bên. Khi bị cả hai bên thì cũng sưng cách nhau 2 - 3 ngày, thường xuất hiện sau viêm tuyến nước bọt và khi các triệu chứng viêm tuyến nước bọt đã dịu đi. Thường vào ngày thứ 5 đến thứ 10 của bệnh thấy sốt xuất hiện trở lại hoặc sốt tăng lên. Có thể buồn nôn, nôn. Tinh hoàn đau, nhất là khi đi lại và to gấp 2-3 lần bình thường, sờ thấy chắc, da bìu có thể nề, căng đỏ. Trong những trường hợp nặng có thể kèm thêm viêm thừng tinh, viêm mào tinh hoàn và tràn dịch màng tinh hoàn. Thường hết sốt sau 3 - 5 ngày. Tinh hoàn giảm sưng từ từ, có thể 3 - 4 tuần sau tinh hoàn mới hết sưng đau (với thể nặng) và không bao giờ có mủ.

Tinh hoàn có bị teo hay không phải đợi khoảng hai tháng sau mới biết chắc (tỷ lệ teo tinh hoàn khoảng 5/1000), chứng vô tinh trùng rất hiếm. Chức năng nội tiết thường không bị ảnh hưởng. Theo kinh điển nếu teo tinh hoàn có thể gây các tình trạng như: Không có tinh trùng, vô sinh, chậm lớn, mất nam tính và liệt dương. Ngày nay, qua theo dõi nhiều năm, đa số các tác giả thấy rằng: Nếu teo một tinh hoàn sẽ không có ảnh hưởng gì, bên lành sẽ hoạt động bù trừ, khi bị teo cả hai bên hoặc ở người chỉ có một tinh hoàn thì tỷ lệ bị ảnh hưởng hoạt động sinh dục và vô sinh cũng thấp.

Ngoài ra có thể gặp thể viêm buồng trứng, viêm màng não, viêm não, viêm cơ tim, tuy nhiên ít gặp trên lâm sàng.

Nhìn chung, quai bị là bệnh lành tính. Hãn hữu có thể có tử vong do viêm não, viêm cơ tim, viêm tuỵ. Tuy nhiên, cần chú ý phụ nữ có thai bị quai bị có thể bị sảy thai, đẻ non, ở nam giới tuổi trưởng thành nếu viêm tinh hoàn nặng cả hai bên có thể dẫn đến vô sinh.

Điều trị như thế nào?

Hiện nay, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, điều trị chủ yếu là nâng đỡ, tăng cường dinh dưỡng, điều trị triệu chứng. Phát hiện sớm các biến chứng như viêm tinh hoàn, viêm màng não... Điều trị cụ thể với thể viêm tuyến mang tai: xúc miệng bằng nước muối 0,9%, dung dịch axit boric 5%, hạ sốt nếu sốt quá cao, có thể dùng giảm đau (paracetamol), an thần nhẹ  (rotunda), dùng các vitamin nhóm B, C, uống nước chanh, cam, ăn lỏng. Nằm nghỉ tại giường, hạn chế đi lại, trong thời gian còn sốt, còn sưng tuyến (thường là 7 - 8 ngày đầu). Cách ly tối thiểu 10 ngày. Còn với thể viêm tinh hoàn, bệnh nhân phải được nằm nghỉ tại giường khi còn sưng đau, mặc quần sịp để treo tinh hoàn; giảm đau bằng cách chườm đá, uống paracetamol,  dùng 3 - 4 ngày, giảm viêm bằng thuốc cortanxy, dùng 3 - 4 ngày. Sau khi tinh hoàn đỡ sưng đau có thể dùng vitamin E từ 1 - 2 tháng để tăng sinh tinh trùng.

Nếu bệnh nhân chỉ có sưng đau tuyến nước bọt mang tai đơn thuần có thể điều trị ngoại trú theo đơn của bác sĩ. Khi đã sưng cả tuyến dưới hàm, dưới lưỡi gây khó nuốt, khó thở hay viêm tinh hoàn thì phải nhập viện điều trị  ngay.

Dự phòng

- Tuyên truyền cho cộng đồng biết các dấu hiệu của bệnh, giáo dục cách phòng bệnh như: cải thiện chế độ dinh dưỡng, tăng cường sức đề kháng của cơ thể, giữ gìn vệ sinh thân thể, đặc biệt đường hô hấp.

- Khi có trẻ bị bệnh phải cho nghỉ tại nhà để cách ly 10 - 21 ngày (thường là 10 ngày) để tránh lây lan cho các cháu khác.

- Tiêm phòng vaccin quai bị: đây là loại vaccin sống giảm độc lực. Vaccin có thể dùng đơn độc hoặc kết hợp các vaccin khác như vaccin tam liên MMR (Measles-mump-rubella) ngừa bệnh sởi, quai bị và sởi Đức (Rubella).

Khuyến cáo sử dụng vaccin: Trẻ 12 đến 14 tháng tuổi nên được tiêm ngừa mũi vaccin tam liên MMR, liều thứ 2 nhắc lại khi trẻ được 4 đến 6 tuổi.

Tiêm chủng quai bị rất quan trọng ở những trẻ dậy thì, thiếu niên và người trưởng thành chưa có miễn dịch chống quai bị.

Phụ nữ có thai bị bệnh nếu có điều kiện tiêm globulin miễn dịch đặc hiệu, dùng 1 liều duy nhất.

BS. Đỗ Thị Lệ Quyên